Các địa danh ở xứ Huế “tím mộng mơ” trên thùng case Jetek

địa danh ở xứ Huế - Feature Image
Mục lục Nội dung

Jetek là một thương hiệu công nghệ của Việt Nam, được sản xuất tại Việt Nam. Vì vậy trong những chiến lược truyền thông của mình, chúng tôi luôn nêu cao tinh thần “Tự hào thương hiệu Việt”. Tinh thần đó được thể hiện cụ thể qua việc thiết kế hoạt tiết in hình các địa danh ở xứ Huế với màu tím đặc trưng của xứ Huế mông mơ trên bao bì sản phẩm case máy tính của công ty. Các bạn hãy cùng chúng tôi khám phá chúng trong bài viết này nhé. 

địa danh ở xứ Huế - 1

Thông tin thêm đến quý bạn đọc, Jetek tự hào là thương hiệu thuần Việt duy nhất ở nước ta có 17 năm sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nguồn, case máy tính…

Chùa Thiên Mụ – chốn linh thiêng và đầy bí ẩn

Ngôi chùa nổi tiếng ở Huế có 2 cái tên

Chùa Thiên Mụ còn có tên là Linh Mụ, là một địa danh ở xứ Huế được xây dựng vào năm 1601 vào đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Ngôi chùa này nằm trên đồi Hà Khê thuộc phường Kim Long, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây. Chùa Thiên Mụ có hướng nhìn ra dòng sông Hương được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Huế.

Theo sử của triều Nguyễn, trong một chuyến du ngoạn, chúa Nguyễn Hoàng đã khám phá ra một địa điểm kết hợp hài hòa giữa núi và sông, chính là ngọn đồi có chùa Thiên Mụ bây giờ.

Người dân địa phương kể lại với chúa Nguyễn Hoàng rằng nơi đây ban đêm thường có một bà lão tóc bạc phơ, mặc áo đỏ quần lục xuất hiện. Bà lão ấy truyền rằng sẽ có người đến đây lập chùa, giúp hấp thu linh khí, phò trợ cho đất nước phát triển hùng mạnh. Nghe chuyện, chúa Nguyễn Hoàng bèn cho người dựng ngôi chùa trên đồi, hướng ra sông Hương và đặt tên là Thiên Mụ (thiên là trời, mụ là bà cụ).

Năm 1862, để cầu mong có con nối dõi, vua Tự Đức sợ chữ “Thiên“ phạm đến Trời nên cho đổi tên chùa từ “Thiên Mụ” thành “Linh Mụ” (Bà mụ linh thiêng). Mãi đến năm 1869, nhà vua mới cho dùng lại tên cũ. Bởi vậy trong dân gian, người ta vẫn dùng cả hai cái tên khi muốn nhắc đến ngôi chùa này.

Lời đồn kì bí gắn với chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ được xếp vào danh sách 20 địa danh ở xứ Huế mà du khách nào cũng nên ghé thăm khi đến cố đô. Gần cổng chùa có một bia đá in bài thơ “Thiên Mụ chung thanh” do vua Thiệu trị sáng tác.

Địa danh ở xứ Huế này còn nổi tiếng với tin đồn “cặp đôi nào yêu nhau cùng lên chùa Thiên Mụ thì khi trở về sẽ chia tay” mà người dân Huế nào cũng biết. Theo lời kể, xưa kia khi chúa Nguyễn còn cai trị ở Đàng trong, tư tưởng lễ giáo phong kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” rất nặng nề.

địa danh ở xứ Huế - 2

Chùa Thiên Mụ nổi tiếng với tin đồn “cặp đôi nào yêu nhau cùng lên chùa Thiên Mụ, khi trở về sẽ chia tay”

Thời điểm ấy có một đôi trai gái yêu nhau mặn nồng. Tuy nhiên, cô gái là tiểu thư khuê các, xinh đẹp và là con một vị quan giàu có. Còn chàng trai lại mồ côi, đã vậy còn nghèo khó. Vì vậy gia đình cô gái đã ngăn cấm quyết liệt tình yêu này. Quá đau khổ, cả hai đã cùng nhau ra bến thuyền Mụ (phía trước chùa Thiên Mụ) để tự vẫn.

Trớ trêu thay, chàng trai đã chết dưới dòng sông Hương, còn cô gái lại dạt vào bờ và được dân làng cứu sống. Sau đó, gia đình đã ép cô phải lấy một người giàu có. Thời gian trôi qua, nàng dần quên đi những kỉ niệm với chàng trai năm nào, còn chàng vẫn nằm lại ở dưới sông Hương, chờ đợi người yêu mà không thấy nên sinh lòng uất hận cho số phận của mình.

Linh hồn của chàng trai “nhập” vào chùa Thiên Mụ, nguyền rằng bất cứ đôi trai gái nào yêu nhau đến đây thì tình yêu sẽ đổ vỡ và chia tay. Lời nguyền được người đời lưu truyền cho đến tận ngày hôm nay, khiến cho chùa Thiên Mụ là một địa danh ở xứ Huế rất linh thiêng và huyền bí.

Tuy nhiên một sư thầy tại chùa Thiên Mụ cho biết: “Chuyện người đời nói ở chùa mang lời nguyền tình duyên là không có. Thời xưa trong khuôn viên chùa cây cối rất nhiều. Các đôi tình nhân thường rủ nhau đến chùa, lợi dụng cây cối trong chùa xanh tốt nên đã làm những chuyện trái với luân thường đạo lý. Không thể chấp nhận được điều đó, người dân đã dựng lên câu chuyện về lời nguyền để giữ sự thanh tịnh cho chùa”.

Đàn Nam Giao

Nơi tế lễ quan trọng nhất của các vị vua nhà Nguyễn

Ngày xưa, các bậc đế vương coi mình là thiên tử, tức con Trời. Mà Trời là đấng chí tôn giữ gìn vận mệnh và ban phát hạnh phúc cho muôn dân nên hằng năm các vị vua đều tổ chức lễ tế trời đất một cách rất long trọng. Nhà vua là con Trời, thay Trời trị vì bá tánh nên đích thân vua phải đứng ra làm chủ tế đàn để chứng tỏ hiếu nghĩa của một người làm con.

Đàn Nam Giao là một địa danh ở xứ Huế được xây dựng xong vào năm Gia Long thứ 5 (1806) ở làng Dương Xuân, phía nam Kinh thành Huế. Đây là tổ hợp các công trình kiến trúc gồm Giao đàn, Trai cung, Thần trù và Thần khố trong khuôn viên hình chữ nhật có diện tích đến 10 ha. Trung tâm của khuôn viên đàn Nam Giao là Giao đàn, hướng về phía nam. Chữ Giao có nghĩa là vùng đất xung quanh kinh thành, nên được gọi là Đàn Nam Giao.

địa danh ở xứ Huế - 3

Các đời vua nhà Nguyễn trồng nhiều cây thông trong lăng tẩm của tổ tiên bởi loài cây này tượng trưng cho người quân tử

Kiến trúc độc đáo với nhiều cây xanh của đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao gồm 3 tầng: tầng trên cùng là Viên đàn, xây thành hình tròn, tượng trưng cho Trời; hai tầng dưới là Phương đàn, xây thành hình vuông, tượng trưng cho Đất. Lối kiến trúc của đàn Nam Giao tuân theo thuyết tam tài: thiên – địa – nhân. Đây là địa danh ở xứ Huế nơi diễn ra các hoạt động lễ nghi chính trong lễ tế Nam Giao.

Trong khuôn viên của Đàn Nam Giao ngày xưa trồng rất nhiều thông, loại cây tượng trưng cho người quân tử. Khi mới xây dựng xong, người ta trồng một cụm thông đứng biệt lập ở phía Nam đàn, tượng trưng cho vua Gia Long. Tại khuôn viên này, mỗi vị hoàng thân và quan lớn đều phải trồng một cây, trên mỗi cây treo một tấm thẻ bằng đồng hoặc bằng đá khắc tên của người trồng. Năm 1834, vua Minh Mạng cũng đã tự tay trồng 10 cây thông ở gần Trai cung. Bây giờ nơi đó đã trở thành một khu rừng thông xanh ngắt, bao bọc lấy toàn bộ khuôn viên đàn Nam Giao.

Sau khi nhà Nguyễn chính thức cáo chung vào tháng 8 năm 1945, đàn Nam Giao không còn được sử dụng với mục đích tế lễ nên dần dần đổ nát, trở nên hoang phế qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, giống như nhiều di tích khác trong quần thể di tích cố đô Huế.

Lăng vua Khải Định – địa danh ở xứ Huế được in trên bao bì case máy tính Jetek

Ngôi lăng tẩm được đích thân vua Khải Định cho người xây cho chính mình

Vua Khải Định tên là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, sinh ngày 08/10/1885. Hoàng tử Bửu Đảo là con trưởng của vua Đồng KhánhHựu Thiên Thuần Hoàng Hậu. Khi vua Đồng Khánh mất, hoàng tử Bửu Đảo mới được 4 tuổi. Vì còn quá nhỏ nên Lưỡng cung cùng triều đình, dưới sự đồng ý của người Pháp, quyết định đưa vua Thành Thái lên ngôi.

Đến tháng 4/1916, khi vua Duy Tân bị Pháp đưa đi an trí tại đảo Réunion, triều đình Huế và người Pháp lập Bửu Đảo, lúc bấy giờ là Phụng Hóa Công lên ngôi hoàng đế vào ngày 18/5/1916, lấy niên hiệu là Khải Định. Khải Định mất ngày 06/11/1925, tại vị được 9 năm, hưởng thọ 40 tuổi.

Sau khi lên ngôi được 4 năm, vua Khải Định đã lệnh cho các quan trong triều giỏi về địa lý, phong thủy đi chọn lựa thế đất tốt để chuẩn bị xây lăng cho mình. Sau 4 năm xem xét, tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý, vua Khải Định chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Núi Châu Chữ sau được đổi tên thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.

Ứng Lăng được khởi công xây dựng ngày 04/9/1920, kéo dài trong 11 năm mới hoàn tất địa danh ở xứ Huế này. Triều đình Huế đã phải huy động hơn một vạn binh lính, tù nhân mở đường, phá núi, làm toại đạo để tạo ra mặt bằng xây dựng. Công việc nặng nhọc hàng ngày, lại nạn thú dữ luôn rình rập, nên nơi đây đã lưu truyền câu ca nổi tiếng:

Châu Ê ơi hỡi châu Ê,

Khi đi thì có, khi về thì không!

Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy công trình này, tđã trưng tập nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừ về xây lăng. Để có kinh phí xây dựng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ Pháp cho phép ông tăng thuế điền lên 30%.

địa danh ở xứ Huế - 4

Lăng vua Khải Định là một kiệt tác kiến trúc kết hợp nhiều trường phái như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Romance, Gothique…

Lối kiến trúc lăng kết hợp nhiều phong cách thiết kế khác nhau

Vua Khải Định cho người sang Pháp mua sắt thép, xi măng, ngói ardoise, sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sành, sứ, thuỷ tinh màu để phục vụ cho việc trang trí. Lăng được chia thành 5 tầng sân cơ bản, càng vào trong càng cao dần lên theo quy luật “ngũ hành tương sinh”. Dưới thời Khải Định, chính quyền Việt Nam đã nằm hoàn toàn trong tay thực dân Pháp. Vì vậy văn hoá nghệ thuật phương Tây có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến kiến trúc nước ta thời đó.

Các nhà nghiên cứu thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn. Địa danh ở xứ Huế này vừa có sự mới lạ, độc đáo nhưng cũng ngông nghênh và lạc lõng trong phong cách kiến trúc. Tổng thể lăng là một khối bê tông hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc cấp, như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này.

Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Romance, Gothique… đã để lại dấu ấn đậm nét trên những chi tiết kiến trúc của một địa danh ở xứ Huế như Ứng lăng. Những trụ cổng hình tháp chịu ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ, các trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật, hàng rào như hệ thống các thánh giá nối kết nhau, nhà bia với những hàng cột hình bát giác, vòm cửa theo lối Romance biến thể… Đây là kết quả của sự giao thoa văn hoá Đông – Tây trong buổi giao thời và cá tính của vua Khải Định.

Bằng sự thông minh, chọn lọc tinh tế và đôi tay tài hoa khéo léo, người thợ Việt Nam đã biến lăng Khải Định trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thuỷ tinh màu. Cho dù bị lên án ở nhiều góc độ khác nhau, địa danh ở xứ Huế này vẫn là một công trình có giá trị nghệ thuật và kiến trúc cao, góp phần làm phong phú, đa dạng cho quần thể lăng tẩm của nhà Nguyễn, xứng đáng với đôi câu đối:

“Tứ diện hiến kỳ quan, phong cảnh biệt khai vũ trụ

Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư”

Kỳ đài Huế

Địa danh xứ Huế có từ khi xây kinh thành

Kỳ đài, còn gọi là cột cờ kinh thành Huế, là di tích kiến trúc thời nhà Nguyễn nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế.  Nơi đây thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh, cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (tức năm 1807), cùng thời gian xây dựng kinh thành Huế. Đến thời Minh Mạng, Kỳ đài được tu sửa, trở thành địa danh ở xứ Huế thu hút khách tham quan du lịch hàng năm.

Cột cờ của Kỳ đài từng được dựng lại sau nhiều lần bị phá hủy trong chiến tranh

Kỳ đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ. Đài cờ gồm 3 tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau với chiều cao khoảng 17,5m. Trên đỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền 3 tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới. Trước đây còn có hai chòi canh và 8 khẩu đại bác được đặt ở Kỳ đài.

Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30m. Năm Thiệu Trị thứ 6 (tức năm 1846), nó được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32m. Đến năm Thành Thái thứ 16 (tức năm 1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ mới làm bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m được xây dựng và tồn tại cho đến ngày hôm nay.

địa danh ở xứ Huế - 5

Kỳ Đài – minh chứng rõ rét cho sự thăng trầm của lịch sử nước nhà

Vai trò của Kỳ đài trong thời Nguyễn và lịch sử hiện đại

Vào thời nhà Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ ở Kỳ đài và một đoạn kinh thành Huế. Trên đỉnh cột cờ có đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu, dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển. Ngày 23/8/1945, sau khi vua Bảo Đại thoái vị, lá cờ đỏ sao vàng đã thay thế cho là cờ hình quẻ ly của triều đình Nguyễn.

Trong sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trong 26 ngày đêm. Đến ngày 24/2/1968, đại đội Hắc Báo, thuộc sư đoàn bộ binh 1 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại Kỳ đài và hạ lá cờ này xuống. Ngày 26/3/1975, sau khi giành thắng lợi trong Chiến dịch Huế – Đà Nẵng, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lại được kéo lên Kỳ đài.

Nghênh Lương Đình

Nghênh Lương Đình là một nhà thủy tạ, địa danh ở xứ Huế từng được dùng làm nơi hóng mát và nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng. Tòa nhà này được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 5 (tức năm 1852) ở bờ Bắc sông Hương, đối diện với Phu Văn Lâu. Trước đây, người ta phải ngăn con đường đi từ cửa Thể Nhơn (dân gian còn gọi là cửa Ngăn) ra Nghênh Lương Đình, không cho ai qua lại hoặc thấy mặt vua.

Nghênh Lương Đình có kiến trúc kiểu phương đình, gồm 1 gian 4 chái. Phía trước và phía sau đều có nhà vỏ cua nối dài. Bộ khung gỗ ở phần trên, nhất là các vì vỏ cua, hệ thống liên ba được chạm trổ công phu. Mái nhà chính lợp ngói hoàng lưu ly, hai nhà vỏ qua lợp ngói liệt men vàng. Nền cao 90cm, bó vỉa bằng gạch vồ, đá thanh, có 13 bậc tam cấp dẫn xuống một hành lang xây sát mặt nước. Cảnh quan xung quanh Đình thoáng đãng, thơ mộng.

Tuy không phải là một công trình đặc sắc về kiến trúc hoặc có quy mô lớn, nhưng Nghênh Lương Đình là một bộ phận không thể tách rời của cụm kiến trúc Nghênh Lương Đình – Phu Văn Lâu và Kỳ đài. Nghênh Lương Đình còn được biết đến trong ca dao thông qua cái tên “bến Văn Lâu”:

Chiều chiều trước bến Văn Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

địa danh ở xứ Huế - 6

Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Đây là một địa danh ở xứ Huế, ban đầu nó là một công trình kiến trúc được xây dựng thời Pháp. Sau khi thống nhất đất nước, công trình này đã được tu sửa để làm trụ sở Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Hiện tỉnh Thừa Thiên – Huế đang xây dựng khu hành chính tập trung tại khu A – khu đô thị An Vân Dương. Sau khi hoàn thành, trụ sở làm việc của ội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ được di chuyển về đây, còn khu nhà đất ở số 16 Lê Lợi (UBND hiện tại) sẽ được tôn tạo thành Bảo tàng Mỹ thuật Huế.

địa danh ở xứ Huế - 7

Nghi môn (Phương môn)

Nghi môn là cổng nối Ngọ môn với Sân Đại Triều Nghi ở đại nội Huế. Phía trước là chiếc cầu Trung Đạo bằng đá, bắc qua hồ Thái Dịch. Hồ được đào năm 1833 để trồng sen và nuôi cá cảnh, xung quanh hồ là những cây sứ cổ thụ tỏa ngát hương thơm.

Tại hai đầu cầu có dựng Nghi môn bằng đồng đúc nổi rất kỳ công gọi là “Long vân đồng trụ”. Trên các ngách trang trí pháp lam ngũ sắc và cả hai mặt đều có gắn 4 chữ hán với các nội dung: “Chính Trực Đẳng Bình” và “Cư Nhân Do Nghĩa” ở Nghi môn phía Nam – gần với vị trí Ngọ Môn, “Cao Minh Du Cửu” và “Trung Hòa Vị Dục” ở Nghi môn phía Bắc, tức Nghi môn phía đối diện.

địa danh ở xứ Huế - 8

Cầu Trường Tiền – địa danh ở xứ Huế mà du khách không thể bỏ qua

Cây cầu thép đầu tiên bắc qua sống Hương

Cũng như cầu Long Biên bắc qua sông Hồng ở Hà Nội, cầu Trường Tiền là cây cầu đầu tiên bắc qua sông Hương ở Huế, ngay sát kinh thành. Đây cũng là một trong những cây cầu đầu tiên được xây dựng ở Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX theo kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây với kết cấu thép. Trước đó, những cây cầu khác được xây dựng đều là công trình ngắn, bằng vật liệu tre, gỗ… không bền vững.

Thuở ban đầu, tên chính thức của địa danh ở xứ Huế bắc qua sông Hương là Thành Thái, rồi Clémenceau, Nguyễn Hoàng… Nhưng vì ngày trước đối diện phía tả ngạn của cầu có một xưởng đúc tiền của Triều Nguyễn, nên người dân nơi đây quen gọi là cầu Trường Tiền.

Mùa thu năm 1896, vua Thành Thái ban chỉ dụ xây dựng cầu sắt và nhấn mạnh: “Chính trị nhân đức không gì quan trọng bằng gia ơn cho dân. Gần đây, phàm tiến hành làm các cầu đường là để tiện cho dân vậy. Nay theo lời Cơ Mật viện tâu nói phía trước sông Hương là quan lộ, nghĩ nên làm một chiếc cầu sắt để tiện thông hành, duy vì phí tổn rất lớn nên còn phải chờ tính toán trù biện”.

Theo nhà văn Bửu Ý (80 tuổi, phường Phú Hội, TP. Huế), lúc bấy giờ việc xây cầu qua sông Hương không dễ dàng vì đây vốn là dòng sông duyên dáng, tình tứ. “Điều kiện thi công thời đó chưa được như bây giờ. Huế đứng trước một thử thách là làm sao có cây cầu bắc qua sông, tạo thuận lợi cho người dân qua lại nhưng cần hết sức tránh xây một công trình quá thô ráp sẽ làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên”, trích lời nhà văn Bửu Ý nói.

Cây cầu được hoàn thành từ sự hợp tác của nhà Nguyễn và chính quyền Pháp

Một năm sau khi vua Thành Thái ban chỉ dụ xây dựng cầu sắt, tháng 4/1897, Toàn quyền Đông Dương Doumer đến Huế để bàn bạc với triều đình, tập trung đầu tư xây dựng nên một địa danh ở xứ Huế có tính bền vững, lâu dài. Nhà vua sai bộ Hộ trích giao 190.000 đồng, số còn thiếu do phía Pháp hỗ trợ. Việc thi công cầu được giao cho hãng Eiffel.

Khi cầu Trường Tiền bắt đầu được xây dựng, vua Thành Thái là người đặt viên đá đầu tiên. Sau hai năm, cây cầu gồm 6 nhịp dầm bằng thép hình chiếc lược ngà (bán nguyệt), nền lát gỗ lim được hoàn thành.

Người dân xứ Huế quen với câu ca “Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp…”. Nhưng chính xác thì địa danh ở xứ Huế này có 6 nhịp và 12 vài, kết với nhau thành 6 cặp. Cầu Trường Tiền có chiều dài khoảng hơn 400 mét tính từ hai mố, nếu tính cả đường dẫn dài khoảng 453 mét, lòng cầu rộng 6 mét. Lúc mới xây dựng, cầu chưa có phần lề dành cho người đi bộ.

“Có thể nói nhà thầu Eiffel của Pháp đã bỏ nhiều công sức trong việc thiết kế và thi công cầu Trường Tiền. Hình dáng cây cầu với màu nhũ bạc của buổi đầu xây dựng đã tô điểm thêm vẻ đẹp của dòng Hương”, nhà văn Bửu Ý nhận xét.

địa danh ở xứ Huế - 9

Sự tồn tại của cầu Trường Tiền qua những biến động thời cuộc

Kể từ khi cầu Trường Tiền hoàn thành vào năm 1899, người dân xứ Huế đã 3 lần chứng kiến cây cầu này đổ sập xuống dòng sông Hương. “Đây có lẽ là cây cầu nhiều lần gãy nhịp và được dựng lại nhất ở Việt Nam”, nhà văn Bửu Ý nói.

Khi mới hoàn thành, Trường Tiền là một cây cầu thép vững chắc với kết cấu và kỹ thuật xây dựng tiên tiến thời bấy giờ của phương Tây. Địa danh ở xứ Huế này là niềm tự hào của chính quyền cũng như nhà thầu Eiffel. Tuy nhiên chỉ sau 5 năm (năm Nhâm Thìn – 1904), một cơn bão lịch sử đã xô đổ cây cầu thép. 4 trên 6 vài của cầu đã bị hất đổ xuống lòng sông Hương. Năm 1906, cầu được tu sửa lại. Lúc này mặt cây cầu đổ bê tông thay vì lót gỗ lim như trước.

Đến năm 1937 dưới thời vua Bảo Đại, chính quyền tiến hành tu sửa cầu Trường Tiền với quy mô lớn, đặc biệt xây dựng thêm hành lang phía ngoài cho người đi bộ, đi xe đạp và 10 vị trí bao lơn ngắm cảnh.

Ngày 19/12/1946, theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến của ta, cầu Trường Tiền bị giật sập để chặn bước quân Pháp. Lúc 2 giờ sáng, một tiếng nổ long trời đã làm rung chuyển cả thành phố. Chiếc vài cầu Trường Tiền tại vị trí nổ bị nâng lên cao, sau đó sập xuống, lệch với nhịp tiếp giáp đến 3 mét. Cuộc kháng chiến ở cố đô Huế đã mở màn như vậy. Mãi đến năm 1953, việc tái thiết nguyên dạng địa danh ở xứ Huế này mới được thực hiện.

Sự tồn tại của cầu Trường Tiền tiếp tục bị đe dọa khi trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968, cây cầu này một lần nữa bị giật sập. Vào đêm 7/2/1968, một tấn thuốc bom đã làm sập nhịp cầu số 4, phá hủy hoàn toàn trụ cầu thứ 3. Sau đó, một chiếc cầu phao lát gỗ theo kiểu dã chiến được dựng lên.

Đã là người dân xứ Huế thì ai nấy đều thuộc lòng mấy câu ca:

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

Em theo không kịp, tội lắm anh ơi!

Bấy lâu mang tiếng chịu lời

Anh có xa em đi nữa, cũng tại ông Trời nên xa

Năm 1905, chiếc cầu được đúc lại bằng bê tông cốt thép, nên có câu:

Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại

Cầu Trường Tiền đúc lại xi-moong

Ơi người lỡ hội chồng con

Về đây gá nghĩa vuông tròn nước non…

Công trình gắn với con người và lịch xứ của vùng đất Thần Kinh

Qua hơn 100 năm tồn tại, cầu Trường Tiền mang nặng bao tâm tình của người dân xứ Huế, chất chứa bao nỗi niềm của du khách khắp nơi khi có dịp ghé thăm. Đứng trên cầu đổ bóng xuống dòng sông Hương xuôi dòng, ngó về phía Bắc là phường Phú Hòa có lịch sử lâu đời rất sầm uất, trông về phía đầu cầu phía Nam có phường Phú Hội đang trên đà phát triển, mới thấy được Cầu Trường Tiền có ý nghĩa lớn lao thế nào đối với xứ Huế.

Đứng trên cầu, chúng ta dường như được quay lại những năm tháng lịch sử oai hùng của dân tộc. Ta lại đảo mắt nhìn xuống dòng Hương Giang vẫn lững lờ trôi, điểm tô thêm vài chiếc thuyền rồng Huế trôi nhè nhẹ, đâu đó ban đêm lại nghe những khúc hát của ca trù Huế vang lên khiến con tim xao xuyến đến chi lạ. Chiếc cầu lại càng thêm lung linh hơn nữa khi vào màn đêm, những ánh đèn tím, xanh, vàng, đỏ càng làm tăng thêm sự rực rỡ, huyền ảo cho cây cầu.

Cầu Trường Tiền theo thời gian vẫn chất chứa một vẻ đẹp mặn mà rất đặc trưng của xứ Huế. Nếu bcó dịp, mời bạn một lần đến thăm xứ Huế và ghé cầu Trường Tiền. Chắc chắn bạn cũng sẽ bị vẻ đẹp ấy thu hút.

Kết

Hy vọng những địa danh ở xứ Huế được in trên bao bì của case máy tính Jetek đã giúp bạn phần nào hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của vùng đất cố đô, nơi địa linh nhân kiệt, là chốn thiêng liêng mà bất cứ người con Việt Nam nào cũng được chào đón. Jetek mong rằng những hình ảnh của Huế trên sản phẩm của chúng tôi sẽ đến mọi miền Tổ quốc, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu thương hiệu Việt cũng như yêu thương con người Việt Nam, bởi vì chúng ta đều là đồng bào, là con Rồng cháu Tiên.

Xem thêm»